Được biết đến là một quốc gia có đầu óc cải tiến và chú trọng về nghiên cứu, có một nền giáo dục phát triển và có chất lượng, Australia đứng sau Mỹ, Anh và Đức về số lượng sinh viên nước ngoài học tập và nghiên cứu. 4000 là số lượng sinh viên Việt Nam theo học tại Australia, bao gồm nhiều trình độ và chuyên nghành đào tạo khác nhau. Từ những khoá học tiếng anh, giáo dục phổ thông, đào tạo nghề,… tới học đại học và mức cao nhất là sau đại học bao gồm thạc sĩ và tiến sĩ.
Nhìn chung, để được cấp visa du học, sinh viên nói chung và sinh viên Việt Nam nói riêng phải có trình độ tiếng anh nhất định và phải chứng minh tài chính cho khoá học tại Australia. Đi kèm với mỗi khoá học là một loại thị thực. Tại Australia, Bộ Di Trú và Đa Văn Hoá Sự Vụ và Bản Xứ (DIMIA) phân thành 7 loại hình thị thực cơ bản cho sinh viên muốn du học tại Australia. Theo anh Trần Hoàn Sinh, Giám đốc kinh doanh của Công ty Phát triển Thương mại Việt Úc, công ty hoạt động chuyên sâu trong lĩnh vực du học Australia – VBD (www.vbd.com.vn), đối với sinh viên Việt Nam, yêu cầu cụ thể về từng loại thị thực là như sau:
Chương trình Anh ngữ độc lập ELICOS (thị thực loại 570), chương trình này coi như điều kiện bắt buộc dành cho sinh viên nước ngoài khi nộp đơn xin thị thực theo loại thị thực phù hợp với khoá học chính. Chương trình học Anh ngữ tự túc được coi như là một khoá học riêng biệt. Loại thị thực này yêu cầu bạn phải đạt 5.0 IELTS với tối đa 40 tuần học tiếng ELICOS.
Chương trình giáo dục phổ thông (thị thực loại 571). Trường tiểu học, trung học bao gồm trung học cơ sở và phổ thông, các chương trình chấp thuận trao đổi trung học. Điểm IELTS theo thị thực 571 tuỳ theo yêucầu của trường hoặc 40 tuần học tiếng ELICOS.
Chương trình giáo dục hướng nghiệp và đào tạo nghề (thị thực loại 572). Chứng chỉ bậc I, II, III và IV, chứng chỉ trung cấp, chứng chỉ trung cấp nâng cao. Thị thực 572 yêu cầu bạn đạt tối thiểu 5.0 IELTS hoặc 4.5 IELTS với tối đa 30 tuần học tiếng.
Chương trình giáo dục bậc cao (Đại học) (thị thực loại 573). Bằng cử nhân, chứng nhận tốt nghiệp, chứng chỉ tốt nghiệp. Đây là loại đào tạo đại học và Thạc sĩ theo hình thức lên lớp (course work).Thị thực 573 yêu cầu bạn đạt 6.0 IELTS hoặc 5.0 IELTS với tối đa 30 tuần học tiếng.
Nghiên cứu Sau đại học (thị thực loại 574). Dành cho Thạc sĩ nghiên cứu (Research) và Tiến sĩ. Điểm IELTS sẽ phụ thuộc vào yêu cầu của trường, hoặc điểm IELTS là 6.0 hay 4.5 với tối đa 30 tuần học tiếng.
Chương trình đào tạo không cấp bằng (thị thực loại 575). Những khoá học bổ trợ kiến thức, những khoá đào tạo cơ bản không cấp bằng, những khoá học chính quy khác hoặc những bộ môn trong khoá học theo loại không cấp bằng. Loại thị thực này yêu cầubạn phải đạt tối thiểu IELTS là 5.5 hoặc 4.5 IELTS với tối đa 30 tuần học tiếng.
Chương trình học của Cơ quan Phát triển Quốc tế Úc và Quốc phòng (thị thực loại 576). Tất cả các khoá học chính quy của sinh viên (đối với tất cả các ngành học) thuộc Cơ quan Phát triển Quốc tế Australia và Quốc phòng đều được Chính phủ Australia tài trợ.
Cũng theo số liệu của Bộ Di Trú và Đa Văn Hoá Sự Vụ và Bản Xứ, trong năm 2003 đến tháng 2/2004, số sinh viên Việt Nam được cấp thị thực là 1324 trong đó loại 570 là 23, thị thực 571 là 173, thị thực 572 là 133, thị thực 573 là 346, thị thực 574 là 447, thị thực 575 là 2, ngoài ra còn có học bổng của Ausaid là 173, của quốc phòng là 26 và trao đổi chương trình phổ thông là 2.
So với các nước trong khối Đông Nam Á, Việt Nam đứng sau Singapore, Malaysia và Thái Lan về số du học sinh tại Australia. Những quốc gia kể trên đều được đánh giá là những con rồng Châu Á, vì họ có một nền kinh tế phát triển mà yếu tố tạo nên là từ những con người có tri thức. Việt Nam đang trong tiến trình hội nhập và phát triển, Chính phủ và xã hội đặt nhiều hy vọng vào những trí thức đang nghiên cứu và học tập không chỉ tại Australia mà còn tại các quốc gia khác trên thế giới.